Vì sao đàn ông tuổi trung niên bị rối loạn cương dương?

Rối loạn cương dương, từ xuất tinh sớm cho đến liệt dương hẳn hoi, là chuyện không hiếm thấy ở đàn ông từ tuổi trung niên.

Chuyện không hề nhỏ khi trên thế giới đang có hàng trăm triệu đàn ông bắt đầu từ tuổi tứ tuần bỗng khó ăn khó nói khi đêm về. Con số nạn nhân, theo dự kiến của chuyên gia ngành y tế, sẽ tăng gấp đôi trước năm 2030!

Nếu tưởng nguyên nhân là do máy nào dùng lâu khó tránh hao mòn thì sai. Một trong các lý do khiến tình trạng mất chất đàn ông nhanh chân trở thành cơn ác mộng là vì bệnh cao huyết áp. Càng rõ nét đau thương hơn nữa nếu huyết áp vừa tăng vừa dao động thất thường nhiều lần trong ngày vì nạn nhân khi đó:

- Thiếu nội tiết tố nam tính testosterone do hậu quả của rối loạn biến dưỡng đường và chất béo khiến vừa mất ham muốn (libido) vừa dễ trầm uất. Không hăng lại thêm buồn thì chuyện đó hanh thông mới lạ!

Vì sao đàn ông tuổi trung niên bị rối loạn cương dương?
Rối loạn cương dương, từ xuất tinh sớm là chuyện không hiếm ở tuổi trung niên.

- Thiếu máu cục bộ ở vùng chậu và cơ quan sinh dục do hiện tượng xơ vữa mạch máu. Bơm máu không đến được nơi cần căng thì lấy gì phồng cho nổi?!

Nỗi trăn trở của người bệnh cao huyết áp thêm phần éo le ở chỗ rối loạn cương dương là phản ứng phụ khó tránh của thuốc hạ áp. Tác hại của thuốc tỉ lệ thuận với thời gian dùng thuốc. Kẹt cho nạn nhân là hễ đã dùng thì không được ngưng thuốc. Đã vậy, nếu điều trị không xong thì phải dùng nhiều loại! Do đó, rối loạn cương dương ở người cao huyết áp không chỉ không mời cũng đến. Đó còn là tiêu chí cho thấy bệnh không hẳn được điều trị với kết quả như mong muốn cho dù huyết áp thường khi không vượt quá định mức bình thường.

Đáng nói hơn nữa, tất cả các loại thuốc được quảng cáo là cường dương diệu kỳ với người bệnh cao huyết áp chẳng khác nào thuốc độc vì dùng thuốc để bơm máu đến mặt trận đang nóng bỏng chiến sự là nguy cơ gây thiếu máu bất ngờ ở nơi khác. Nếu nơi thiếu máu là thành tim, là não bộ thì nhồi máu cơ tim khi đang thượng mã, tai biến mạch máu não khi vừa xuống ngựa là giá phải trả cho người bệnh cao huyết áp!

Nói vậy không có nghĩa là người bệnh cao huyết áp đành mất chất lượng của cuộc sống. Vẫn có giải pháp nếu thầy thuốc đừng quên đối phó với tình trạng liệt dương trong bệnh tiểu đường theo đúng trình tự:

1. Ổn định đường huyết bằng phác đồ điều trị đúng bài bản.

2. Tiếp tế cho cơ thể dưỡng chất cần thiết để tự tổng hợp nội tiết tố như chất đạm gốc thực vật (đậu nành, tảo spirulina), khoáng tố vi lượng cần thiết cho chức năng sinh dục như kẽm, crôm, mangan.

3. Sử dụng hoạt chất sinh học trong cây thuốc có công năng điều hòa trục thần kinh - nội tiết thay vì chạy theo thuốc hóa chất tổng hợp với công dụng cấp kỳ nhưng đầy may rủi.

4. Giải độc định kỳ qua ngõ lá gan, trái thận, khung ruột để giảm phản ứng phụ của thuốc đặc hiệu.

Toa thuốc trị huyết áp cao vì thế không chỉ gồm thuốc hạ áp. Mặt khác, dục tốc bất đạt. Liệt dương ở đàn ông cao huyết áp là một thí dụ cụ thể.

0 nhận xét:

Hơn 75% bệnh nhân tiểu đường nhập viện vì biến chứng tim mạch

Tiểu đường hay còn gọi đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa đường mạn tính, hậu quả là làm tăng đường huyết kéo dài, sau đó sẽ gây ra rối loạn chuyển hóa mỡ, rối loạn đông máu, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp...

Theo cuốn Những nguyên lý nền tảng Đái tháo đường - tăng Glucose máu, tác giả Tạ Văn Bình - 2007 - nhà xuất bản Y học, hơn 75% bệnh nhân tiểu đường nhập viện vì các biến chứng tim mạch. Nhiều thống kê cho thấy khoảng 80% bệnh nhân tiểu đường bị xơ vữa động mạch, tỉ lệ này chỉ chiếm 30% nếu bệnh nhân không có đái tháo đường.

Nghiên cứu mới làm giảm HbA1c – ngăn ngừa biến chứng

Tháng 04 năm 2014, bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã tiến hành nghiệm thu đề tài “Đánh giá hiệu quả hỗ trợ điều trị của TĐCARE trên bệnh nhân đái tháo đường type 2”. TPCN TĐCARE gồm 7 thảo dược quý: khổ qua, dây thìa canh, linh chi, sinh địa, thương truật, tảo spirulina, hoài sơn có tác dụng làm hạ đường huyết, giảm chỉ số HbA1c, giảm cholesterol, lipid máu, giúp ngăn chặn các biến chứng trên mắt, tim, thận, thần kinh… do đái tháo đường gây ra.

Hơn 75% bệnh nhân tiểu đường nhập viện vì biến chứng tim mạch

HbA1c giảm từ 9% xuống 7%, nguy cơ biến chứng tim mạch giảm 50 – 80%

Giảm HbA1c – Phòng ngừa biến chứng tim mạch

Bệnh nhân đái tháo đường có tỉ lệ biến chứng tim mạch cao hơn người bình thường và tiên lượng bệnh nặng hơn, bệnh nhân thường tử vong vì bệnh tim mạch. Theo Hiệp hội đái tháo đường Mỹ, việc điều trị tiểu đường phải đạt được hai mục tiêu: kiểm soát đường huyết ở ngưỡng an toàn và phát hiện điều trị sớm các biến chứng.

Hầu hết người bệnh hiện nay chỉ quan tâm tới đường huyết chứ chưa quan tâm tới biến chứng, như vậy mới đạt được 50% mục đích điều trị. Để đáp ứng 50% mục tiêu điều trị còn lại, người bệnh cần theo dõi chỉ số HbA1c.

Chỉ số HbA1c phản ánh khả năng kiểm soát đường huyết trong 3 tháng gần nhất, ưu việt hơn chỉ số đường huyết (chỉ phản ánh đường máu tại thời điểm đo). Ở người bình thường HbA1c nhỏ hơn 6.5%. Theo cuốn “Biến chứng bệnh Đái tháo đường và điều trị” (TS. Đỗ Trung Quân - 2006 - Nhà xuất bản y học, khi HbA1c giảm 1% bệnh nhân giảm được 38% nguy cơ mù lòa, giảm 28% nguy cơ suy thận, giảm 35% nguy cơ cắt cụt chi. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi HbA1c giảm từ 9% xuống 7%, tỉ lệ biến chứng võng mạc ở người bệnh tiểu đường typ 2 giảm 1.5 – 2.5 lần; tỉ lệ biến chứng thận giảm 3 – 9 lần, nguy cơ biến chứng tim mạch giảm 50 – 80%.

Nguy cơ tổn thương động mạch vành do tiểu đường

Tổn thương hẹp động mạch vành – một biến chứng mạn tính do đái tháo đường gây ra cho bệnh nhân, rất khó nhận biết do có diễn biến âm thầm, không gây đau. Tuy nhiên, biến chứng này lại gây ra nhiều hậu quả nặng nề như thiếu máu hay nhồi máu cơ tim, suy tim xung huyết.

Bệnh chứng cấp tính là những cơn đau thắt ngực làm cho bệnh nhân có những cơn đau thắt ngực vùng sau xương ức đoạn 1/3 dưới, lúc đầu chỉ đau khi gắng sức, sau một thời gian đau cả khi nghỉ ngơi, đau có thời gian tăng dần, đau như ép ngực, đau vã mồ hôi, đau lan lên hàm và hai tay, ngậm thuốc dãn mạch vành thì bớt đau.

Ngoài ra, còn có tình trạng nhồi máu cơ tim xảy ra ở vị trí đau như trên nhưng đau nhiều hơn, ngậm thuốc không bớt, có thể tụt huyết áp, tử vong do loạn nhịp tim, gây nguy hiểm. Bệnh nhân cũng có thể bị sốc tim do nhồi máu cơ tim gây hoại tử phần lớn cơ tim nên tim không bơm đủ máu nuôi cơ thể. Bệnh nhân khó thở, trụy mạch, chi lạnh, không có nước tiểu, 95% tử vong nếu không được nong động mạch vành. Nặng nhất là tử vong đột ngột do tắc một nhánh động mạch vành lớn gây vỡ tim hay loạn nhịp tim nguy hiểm.

0 nhận xét:

Suy dinh dưỡng cản trở sự phát triển của trẻ

Trẻ bị suy dinh duong thường có tầm vóc thấp bé hơn trẻ bình thường, chậm phát triển ý thức và trí tuệ. Khi bị suy dinh dưỡng, hệ miễn dịch của trẻ yếu nên dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm đường hô hấp, dễ ốm vặt mỗi khi thời tiết thay đổi.

Suy dinh dưỡng cản trở sự phát triển của trẻ


Tại sao trẻ bị suy dinh dưỡng?

Trẻ em là đối tượng vẫn còn thụ động trong việc ăn uống. Vì thế, bất cứ sơ suất nào của bố mẹ trong quá trình ăn uống của trẻ đều có thể khiến trẻ đứng trước nguy cơ bị suy dinh duong.

Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Lâm, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng: Có nhiều nguyên nhân khiến trẻ bị suy dinh dưỡng như trẻ bị biếng ăn, trẻ không được bú sữa mẹ, trẻ ăn dặm không đúng cách (quá sớm hoặc quá muộn); cha mẹ không biết cách lựa chọn thực phẩm phù hợp với trẻ. Ngoài ra, trẻ bị mắc một số bệnh nhiễm trùng như viêm phổi, tiêu chảy, lao, sởi … cũng đều có thể cản trở việc hấp thu khiến trẻ bị suy dinh dưỡng.

Những hậu quả của suy dinh dưỡng

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 54% trường hợp tử vong của trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển có liên quan đến thiếu dinh dưỡng ở mức độ vừa và nhẹ.

Mặt khác, suy dinh dưỡng còn làm tăng các nguy cơ bệnh lý như nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy… Theo các bác sỹ chuyên khoa Nhi: Suy dinh dưỡng là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý này xảy ra và kéo dài, bệnh lý làm cho trẻ ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng và vì vậy suy dinh dưỡng ngày càng trở nên nặng nề hơn.

Suy dinh dưỡng cũng là nguyên nhân trực tiếp làm cho tất cả các hệ cơ quan của cơ thể giảm phát triển, bao gồm của cả hệ cơ xương, nhất là khi tình trạng thiếu dinh dưỡng diễn ra sớm như suy dinh dưỡng trong giai đoạn bào thai và giai đoạn sớm trước khi trẻ được 2 tuổi. Nếu tình trạng suy dinh dưỡng kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn.

Các bác sỹ chuyên khoa Nhi đặc biệt nhấn mạnh: Trẻ bị thiếu dinh dưỡng thường là thiếu đồng bộ nhiều chất, trong đó có những chất tối cần thiết cho sự phát triển não và trí tuệ của trẻ, nhất là trẻ dưới 6 tuổi như chất béo, chất đường, sắt, iốt, DHA, Taurine… Do đó, trẻ bị suy dinh dưỡng cũng thường chậm chạp lờ đờ vì vậy giao tiếp xã hội thường kém, kéo theo sự giảm học hỏi, tiếp thu.

Theo dantri

0 nhận xét:

Trẻ dễ suy dinh dưỡng vì ngộ độc chì

Trẻ em bị ảnh hưởng do tiếp xúc với chì nhiều hơn người lớn. Chì ảnh hưởng hầu hết cơ quan nhưng hậu quả lâu dài chủ yếu trên hệ thần kinh trung ương và ngoại biên.

Xăng pha chì là nguồn phơi nhiễm chì quan trọng. Sản phẩm này đã dần bị loại bỏ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, tại Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, các nghiên cứu thực hiện sau khi loại bỏ xăng pha chì cho thấy nồng độ chì trong máu trung bình và tỷ lệ > 10 μg/dl còn rất cao. Điều này chứng tỏ ngoài xăng pha chì còn rất nhiều nguồn phơi nhiễm chì khác.

Theo các BS ở BV Nhi Đồng 2, nếu trong nhà có người từng dùng thuốc dân gian hoặc cổ truyền, sống gần giao lộ đông đúc thì trẻ thường có mức độ nhiễm chì cao hơn những trẻ khác. BS Huỳnh Hoàng Anh - BV Nhi Đồng 2 cho biết, kết quả trên được ghi nhận trong một tháng (tháng 4 - 5/2012) theo dõi 311 trẻ tại Khoa Hô hấp BV Nhi Đồng 2. Tuổi trung bình 12 tháng, nhóm tuổi dưới năm tuổi 96,5%, trong đó nhóm tuổi dưới 12 tháng chiếm 51,1%.

Trẻ dễ suy dinh dưỡng vì ngộ độc chì

Những yếu tố nguy cơ khác làm trẻ nhiễm chì là do gia đình sử dụng bình acquy cũ để làm vật dụng trong nhà, cha mẹ hàn chì tại nơi làm việc và những trẻ sống trong môi trường sử dụng nước mưa (dụng cụ lấy và dự trữ nước mưa có chứa chì hoặc được hàn chì…) trong sinh hoạt ăn uống hàng ngày. Qua kiểm tra nồng độ máu, 201 trẻ (64,6%) có BLL ≤ 5 μg/dl; 110 trẻ có BLL > 5 μg/dl (35,4%) bao gồm: 22 trẻ có BLL ≥ 10 μg/dl (7,1%) và 9 trẻ có BLL > 20 μg/dl, 3 trẻ BLL > 35 μg/dl.

Những trẻ ngộ độc chì mạn tính thường có nguy cơ suy dinh duong, còi cọc do biếng ăn, xanh xao, đi cầu ra phân đen, sau đó là táo bón. Khi trẻ bị ngộ độc chì, việc thải bỏ chì qua nước tiểu rất chậm. Vì vậy, trẻ cần được đặc trị như rửa dạ dày, truyền dịch.

Để hạn chế việc trẻ nhiễm độc chì, người lớn cần cải thiện các điều kiện môi trường sống: không nên dùng các vật dụng chứa đựng thực phẩm có màu sắc lòe loẹt, không dùng các loại thuốc dân gian không rõ nguồn gốc, loại bỏ các vật dụng có nguy cơ chứa chì.

0 nhận xét: